
Ảnh minh họa - VGP.
Tại sự kiện, đại diện Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, các thị trường nước ngoài không còn là những thị trường “dễ tính” hay chuộng hàng tiểu ngạch như trước đây. Các yêu cầu về kiểm dịch thực vật, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc ngày càng chặt chẽ.
Xu hướng tiêu dùng trên thế giới cũng ngày càng thay đổi. Người tiêu dùng trên thế giới ngày càng quan tâm đến sản phẩm hữu cơ, canh tác sinh thái, chứng nhận chất lượng, khả năng truy xuất tới từng công đoạn thu hoạch, đóng gói. Các nhà nhập khẩu lớn thường ưu tiên nhà cung cấp sử dụng phương thức logistics xanh, giảm phát thải carbon, bao bì thân thiện môi trường.
Một vấn đề khác của nông sản Việt nằm ở chế biến. Theo một thống kê, rau quả tươi hiện vẫn chiếm trên 70% trong cơ cấu xuất khẩu, trong khi tỉ lệ chế biến sâu mới khoảng 30%. Việc phụ thuộc lớn vào hàng tươi khiến nông sản dễ bị chịu tác động khi thời tiết, dịch bệnh hoặc thời gian thông quan tại cửa khẩu biến động. Cùng với đó, rau quả đặc biệt nhạy cảm với thời gian và nhiệt độ, nên logistics nhanh gọn là khâu không thể tách rời trong xuất khẩu nông sản.
Những thực tế trên đòi hỏi ngành Nông nghiệp Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng phải chuyển từ lợi thế sản lượng sang lợi thế về chất lượng, tổ chức chuỗi. Cần thiết hình thành “bản đồ sản xuất xanh”, tổ chức vùng trồng chuyên canh theo tín hiệu thị trường, số hóa quản lý mã số vùng trồng, kiểm soát quy trình sản xuất nhằm hạn chế gian lận xuất xứ, bảo vệ uy tín nông sản.
Đầu tư chế biến sâu ngay tại vùng nguyên liệu cũng là công việc rất cần thiết. Thay vì chủ yếu xuất khẩu trái cây tươi, doanh nghiệp nên mở rộng sang trái cây cấp đông, sấy thăng hoa, nước ép cô đặc, sản phẩm dinh dưỡng, tinh dầu từ phụ phẩm nông nghiệp; vừa nâng giá trị sản phẩm, vừa giảm áp lực tiêu thụ vào chính vụ. Trong logistic, chúng ta cũng cần bổ sung các hệ thống kho lạnh trung chuyển hợp lý; tăng kết nối bằng đường bộ, đường biển, đường sắt và hàng không nhằm giảm rủi ro cho nông sản.
Trong xu thế chung của thế giới, vùng nguyên liệu và sản lượng nông sản đã không còn là những điều kiện duy nhất. Khi cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người sản xuất đều đã cùng nhận diện sâu sắc các vấn đề chất lượng, truy xuất nguồn gốc, công nghệ, logistics, môi trường, phát triển bền vững với nông sản; ngành nông sản Việt sẽ có những động thái quyết liệt phát triển các chuỗi cung ứng xanh và khép kín, tạo ra giá trị nhiều hơn nữa cho các sản phẩm nông sản.
Thành Trung


