• :
  • :
Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Các bộ, ngành đồng hành cùng doanh nghiệp giảm chi phí logistics

Cải cách hải quan, số hóa thủ tục, nâng hiệu quả vận tải và phối hợp liên ngành là giải pháp đang được các bộ, ngành thúc đẩy nhằm giảm thời gian, chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Đẩy mạnh cải cách, số hóa thủ tục hải quan

Trong bối cảnh hoạt động xuất nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng, bài toán giảm chi phí logistics đang đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của nhiều bộ, ngành thay vì chỉ trông chờ vào một khâu riêng lẻ. Từ cải cách thủ tục hải quan, số hóa hồ sơ, kiểm tra chuyên ngành đến nâng cao hiệu quả vận tải, các cơ quan quản lý đang từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn, đồng hành cùng doanh nghiệp.

Thông tin tại Hội nghị trao đổi giải pháp giảm chi phí logistics nhằm thúc đẩy xuất khẩu do Bộ Công Thương tổ chức sáng 22/9, bà Bùi Thị Minh Hải, đại diện Cục Hải quan, Bộ Tài chính cho biết, tính đến ngày 15/9/2026, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 825 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 401 tỷ USD, nhập khẩu 424 tỷ USD, nhập siêu khoảng 23 tỷ USD. Kim ngạch ở cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng so với cùng kỳ năm trước.

Đại diện Cục Hải quan phát biểu tại hội nghị.

Đại diện Cục Hải quan phát biểu tại hội nghị.

Quy mô thương mại ngày càng lớn đồng nghĩa yêu cầu đối với hệ thống logistics ngày càng cao. Trong đó, thủ tục hải quan là một khâu quan trọng, có tác động trực tiếp đến thời gian đưa hàng qua cửa khẩu, chi phí của doanh nghiệp và hiệu quả của chuỗi cung ứng.

Theo đại diện Cục Hải quan, thời gian qua, ngành Hải quan đã tập trung cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời đẩy mạnh số hóa nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Tỷ lệ phân luồng hiện nay cho thấy phần lớn tờ khai được xử lý ở luồng xanh; luồng vàng khoảng 26% và luồng đỏ chỉ hơn 2%. Luồng đỏ chủ yếu tập trung ở hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là những mặt hàng thuộc diện phải kiểm tra chuyên ngành hoặc phải có giấy phép, chứng nhận trước khi thông quan.

Tuy nhiên, theo Cục Hải quan, một trong những điểm cần tiếp tục cải cách là sự liên thông giữa thủ tục hải quan với thủ tục quản lý chuyên ngành. Hiện vẫn còn những loại giấy phép, giấy chứng nhận hoặc kết quả kiểm tra mà doanh nghiệp phải nộp bản chính. Một số thủ tục đã được triển khai trên Hệ thống một cửa quốc gia nhưng chưa hoàn toàn thực hiện bằng phương thức điện tử; một số thủ tục vẫn vận hành trên các cổng riêng, khiến quá trình kết nối, liên thông dữ liệu chưa đầy đủ.

Trong 6 tháng đầu năm, ngành Hải quan đã rà soát, chuẩn hóa 40 mẫu, 44 mẫu văn bản thuộc chứng từ hải quan. Từ tháng 7/2026, một số đơn vị cung cấp phần mềm cũng phát triển giải pháp hỗ trợ chuyển đổi chứng từ giấy thành dữ liệu điện tử.

Mục tiêu được đặt ra là dữ liệu doanh nghiệp đã cung cấp thì không yêu cầu cung cấp lại, theo nguyên tắc chỉ cung cấp một lần. Khi dữ liệu được số hóa và liên thông, cơ quan quản lý có thể khai thác, sử dụng hiệu quả hơn, đồng thời doanh nghiệp giảm được thời gian, chi phí thực hiện thủ tục. Cục Hải quan cũng đang xây dựng đề án Hải quan số, tiếp tục rà soát để giảm tỷ lệ phân luồng kiểm tra và nâng cao hiệu quả xử lý hồ sơ.

Một vấn đề khác được đặt ra là thời gian thông quan không chỉ phụ thuộc vào cơ quan Hải quan. Theo kết quả đo thời gian thông quan của các cơ quan độc lập và kết quả đo thời gian giải phóng hàng hóa được ngành Hải quan thực hiện hằng năm, khoảng 70% thời gian thông quan vẫn nằm ở các thủ tục khác, như xin giấy phép, vận chuyển, kiểm tra, thử nghiệm… Thời gian xử lý tại cơ quan Hải quan chỉ chiếm một phần trong tổng thời gian để hàng hóa được thông quan.

Thực tế này cho thấy, muốn giảm chi phí logistics, cần sự phối hợp của nhiều cơ quan quản lý nhà nước. Việc cải cách thủ tục hải quan nếu không đi cùng cải cách thủ tục chuyên ngành thì hiệu quả giảm thời gian thông quan sẽ khó đạt được như kỳ vọng.

Đối với hàng hóa nông sản, đặc biệt là nông sản tươi, yêu cầu này càng rõ nét. Theo đại diện Cục Hải quan, Nhà nước có chính sách ưu tiên, tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, vào mùa vụ vẫn có thể xảy ra tình trạng ùn ứ tại cửa khẩu.

Một trong những nguyên nhân là hàng hóa xuất khẩu sang các thị trường lớn phải đáp ứng tiêu chuẩn và yêu cầu kiểm tra của nước nhập khẩu. Nếu hàng hóa không đạt yêu cầu, có thể bị từ chối tiếp nhận hoặc trả lại. Vì vậy, ùn ứ tại cửa khẩu không đơn thuần xuất phát từ năng lực thông quan của cơ quan Hải quan mà còn liên quan đến chất lượng hàng hóa, mức độ tuân thủ của doanh nghiệp và các yếu tố khác trong quá trình xuất khẩu.

Cùng với cải cách thủ tục, ngành Hải quan cũng đang nghiên cứu mở rộng cơ hội tham gia chương trình doanh nghiệp ưu tiên. Doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện theo quy định có thể lập hồ sơ để được xem xét, công nhận chế độ ưu tiên; không giới hạn theo địa bàn hay ngành hàng.

Bên cạnh đó, chương trình khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật hải quan hướng tới những doanh nghiệp chưa đủ điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên nhưng mong muốn cải thiện mức độ tuân thủ, từng bước đáp ứng các điều kiện để được hưởng chế độ ưu tiên.

Không thể giảm chi phí logistics nếu thiếu phối hợp

Nếu Hải quan là một mắt xích quan trọng trong quá trình thông quan thì vận tải là một cấu phần trực tiếp tạo nên chi phí logistics. Vì vậy, những cải cách trong lĩnh vực vận tải cũng có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

Đại diện Bộ Xây dựng phát biểu tại hội nghị.

Đại diện Bộ Xây dựng phát biểu tại hội nghị.

Đại diện Bộ Xây dựng cho biết, thời gian qua, Bộ đã triển khai nhiều giải pháp tạo điều kiện cho hoạt động vận tải nói chung và doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói riêng; trong đó có cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, rà soát và cắt giảm các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực vận tải.

Đối với thủ tục hành chính liên quan đến tàu thuyền, trong đó có tàu chở hàng, các thủ tục từng bước được thực hiện tập trung thông qua hệ thống điện tử, góp phần giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Bộ Xây dựng cũng đã triển khai những nội dung liên quan đến miễn, giảm và đơn giản hóa một số thủ tục đối với phương tiện thủy nội địa.

Tuy nhiên, các cơ quan quản lý cũng nhìn nhận, để giải quyết căn cơ bài toán logistics, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách và cơ chế phối hợp. Bộ Xây dựng đang tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hàng hải và đường thủy nội địa; đồng thời xây dựng chính sách phát triển vận tải, lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

Từ góc độ Bộ Công Thương, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu cho rằng, bức tranh chi phí logistics còn nhiều vấn đề cần tiếp tục cải thiện. Việc so sánh chi phí logistics với GDP hay với giá thành hàng hóa hiện vẫn có những cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn, đối với dệt may, chi phí logistics có thể chiếm khoảng 10% giá hàng xuất khẩu, trong khi một số nghiên cứu đưa ra mức khoảng 16-18%.

Ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh việc giảm chi phí logistics cần sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp.

Ông Trần Thanh Hải nhấn mạnh việc giảm chi phí logistics cần sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, hiệp hội, doanh nghiệp.

Điều quan trọng là qua trao đổi trực tiếp với các hiệp hội, ngành hàng và doanh nghiệp, cơ quan quản lý có thêm thông tin thực tiễn để điều chỉnh chính sách và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp hơn.

Những vấn đề doanh nghiệp phản ánh tập trung vào các nhóm chi phí vận tải, logistics và thủ tục của cơ quan quản lý nhà nước. Trong đó, khoảng 70% thời gian thông quan nằm ở các thủ tục ngoài cơ quan Hải quan cho thấy yêu cầu phối hợp liên ngành là rất rõ.

Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra cùng yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, phân quyền, phân cấp, áp lực cải cách không chỉ đặt lên doanh nghiệp mà cả các cơ quan quản lý nhà nước. Muốn giảm thời gian, chi phí logistics, từng khâu trong chuỗi thủ tục cần được rà soát và cải thiện.

Bên cạnh việc giảm chi phí trong nước, Bộ Công Thương cũng đang chủ trì chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường thế giới (Chương trình Go Global) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đưa hàng ra nước ngoài.

Một trong những vấn đề được đặt ra là phương thức Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có việc nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ xây dựng trung tâm logistics hoặc trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài.

Theo ông Trần Thanh Hải, vai trò của Nhà nước không nhất thiết là trực tiếp làm thay doanh nghiệp mà quan trọng hơn là xây dựng chính sách, tạo cơ chế, hỗ trợ tín dụng và các ưu đãi phù hợp để kích hoạt nguồn lực xã hội.

Đơn cử với kiến nghị của doanh nghiệp về việc cần có các kho hàng tại nước ngoài để phục vụ doanh nghiệp xuất khẩu, ông Hải cho rằng, nguồn lực ngân sách có hạn càng đòi hỏi chính sách hỗ trợ phải tính đến hiệu quả và khả năng tạo động lực cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng, nhưng để mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài, vẫn cần những cơ chế, “lối mở” và sự dẫn dắt phù hợp từ phía Nhà nước.

Giảm chi phí logistics không phải bài toán của riêng doanh nghiệp hay một bộ, ngành. Hải quan tiếp tục cải cách và số hóa; ngành vận tải tiếp tục hoàn thiện chính sách, thủ tục; các cơ quan chuyên ngành cần tăng tính liên thông; còn doanh nghiệp cần nâng cao mức độ tuân thủ và chủ động phản ánh những điểm nghẽn phát sinh. Sự đồng hành đó, nếu được chuyển thành những cải cách cụ thể ở từng khâu, sẽ tạo nền tảng để rút ngắn thời gian thông quan, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Phương Lan, Quỳnh Trang

Tin liên quan